Những bài văn mẫu hay lớp 9

Soạn Bài Nghị Luận Trong Văn Bản Tự Sự Lớp 9 | Văn Mẫu

Đề bài: Soạn Bài Nghị Luận Trong Văn Bản Tự Sự Lớp 9

Bài Làm

I. TÌM HIỂU YẾU TỐ NGHỊ LUẬN TRONG VĂN BẢN TỰ SỰ

Câu 1: Đọc đoạn trích

Câu 2:

a) Những câu, chữ thể hiện rõ tính chất nghị luận trong hai đoạn trích:

– Trong đoạn trích Lão Hạc của Nam Cao:

+ Nếu ta không cố tìm mà hiểu họ, thì ta chỉ thấy họ gàn dở, ngu ngốc, hần tiện, xấu xa, bí ổi

+ Vợ mình không ác nhưng thị khổ quá rồi

+ Một người đau chân có bao giờ quên được cái chân của mình

+ Khi người ta khổ quá thì người ta chẳng còn nghĩ đến ai được nữa

+ Mình biết vậy nên chỉ buồn chứ không nỡ giận

– Trong đoạn trích Thuý Kiều báo ân báo oán:

+ “Dễ dàng là thói hồng nhan,

Cùng cay nghiệt lắm càng oan trái nhiều.”

+ “Rằng: “Tôi chút phận đàn bà,

Ghen tuông thì cũng người ta thường tình.”

+ “Lòng riêng riêng những kính yêu,

Chồng chung chưa dễ ai chiều cho ai.”

+ “Trót lòng gây việc chông gai,

Còn nhờ lượng bể thương bài nào chăng.”

b)

* Đoạn trích “Lão Hạc”:

– Luận điểm: nếu ta không cố mà tìm hiểu những người xung quanh thì ta luôn có cớ để tàn nhẫn và độc ác với họ (nêu vấn đề)

– Phát triển vấn đề: Vợ tôi không phải là người ác, nhưng sở dĩ thị trở nên ích kỉ, tàn nhẫn là vì thị đã khổ quá rồi:

Xem thêm:  Soạn văn Bài 55: Những đứa trẻ (Trích Thời thơ ấu)

+ Khi người ta đau chân thì chỉ nghĩ đến cái chân đau (từ một quy luật tự nhiên)

+ Khi người ta khổ đau thì người ta không còn nghĩ đến ai được nữa

+ Và cái bản tính tốt của người ta bị những nỗi lo lắng, buồn đau, ích kỉ che lấp mất

– Kết thúc vấn đề: Tôi biết vậy nên chỉ buồn chứ không nỡ giận

– Nam Cao đã sử dụng các kiểu câu hô ứng thể hiện các phán đoán dưới dạng nếu…thì; vì thế…cho nên; sở dĩ…là vì; khi A…thì B. Các câu văn khẳng định, ngắn gọn, khúc triết như diễn đạt những chân lí

* Đoạn trích “Thúy Kiều báo ân báo oán”:

– Lập luận của Kiều: Trong phiên bản này, Kiều là người buộc tội Hoạn Thư:

Loading...

+ Sau lời chào mỉa mai là lời đay nghiến

Xưa nay đàn bà có mấy người ghê gớm, cay nghiệt như mụ

Xưa nay, càng cay nghiệt lắm thì càng chuốc lấy oan trái

Kiều sử dụng các kiểu câu khẳng định: càng…càng

– Lập luận của Hoạn Thư: Hoạn Thư đưa ra 4 luận điểm:

+ Thứ nhất: mình là đàn bà, ghen tuông là chuyện bình thường.

+ Thứ hai: mình đã đối xử rất tôt với cô khi cô chép kinh ở “Quan Âm Các”.

+ Thứ ba: mình và cô đều là cánh chồng chung nên chẳng nhường cho nhau được …

+ Thứ tư: dù sao mình đã gây ra nhiều đau khổ cho cô, giờ đây mình chỉ còn trông vào lòng khoan dung rộng lớn của cô.

Xem thêm:  Phân Tích Vẻ Đẹp Và Số Phận Bi Kịch Của Nhân Vật Vũ Nương

Với lập luận trên của Hoạn Thư, Kiều phải công nhận Hoạn Thư là một người “khôn ngoan đến mực, nói năng phải lời”. Kiều phải băn khoăn và sau cùng đã tha bổng cho Hoạn Thư.

* Trong đoạn văn nghị luận, thường dùng nhiều câu khẳng định, phủ định, các cặp quan hệ từ: nếu…thỡ; khụng những…mà cũn; càng …càng…

* Từ ngữ thường được dùng để lập luận trong văn bản tự sự: Tại sao:thật vậy, tuy thế, trước hết, tóm lại, tuy nhiên…

II. LUYỆN TẬP

Bài tập 1:

Lời văn trong đoạn trích là lời của ông giáo, ông giáo thuyết phục chính mình rằng vợ mình không ác để mà “chỉ buồn chứ không nỡ giận”. Vợ ông giáo đã không thông cảm và hiểu cho hoàn cảnh của lão Hạc, nhưng ông giáo không giận vì điều đó mà chỉ buồn. Vì ông biết vợ ông cũng đã khổ quá nhiều rồi, và còn có nhiều thứ để lo toan. Vì vậy, để có thể tìm hiểu và cảm thông cho người khác khi mình đang “đau chân” quả thật là khó khăn.

Bài tập 2:

Nàng Kiều đă khen Hoạn Thư là Khôn ngoan đến mực nói năng phủi lời sau khi đã nghe Hoạn Thư kêu ca chạy tội. Hoạn Thư đã lập luận như sau: Trước hết, Hoạn Thư đưa ra giải thích sự ghen tuông là tâm lý chung của đàn bà. Sau đó, Hoạn Thư kín đáo kể công đã chạnh lòng thương xót mà cho Kiều ra chép kinh ở Quan Âm Các: Nghĩ cho khi gác viết kinh và dẫu biết mà không bắt giữ khi nàng bỏ trốn khỏi nhà họ Hoạn: Với khi khỏi cửa dứt tình chẳng theo. Cao tay hơn, cuối cùng Hoạn Thư nhận hết tội lỗi về mình và xin Kiều khoan dung. Trước những lời lẽ của Hoạn Thư, Kiều phải thừa nhận rằng ả “Khôn ngoan đến mực nói năng phải lời”. Hoạn Thư đẩy Kiều tới chỗ khó xử: Tha ra thì cũng may đời, Làm ra mang tiếng con người nhỏ nhen. Cho nên dù đã nghiêm khắc răn đe Hoạn Thư nhưng rồi Kiều lại tha bổng.

Xem thêm:  Soạn văn Bài 13: Cách dẫn trực tiếp và cách dẫn gián tiếp